Hiển thị bài viết mới nhất theo chiều ngang

Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nông nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 2 tháng 11, 2011

Có nên trồng cây cao su trên đất ruộng lúa?

Hiện nay do giá cao su khá cao nên một số hộ dân đã đem cây cao su về trồng trên đất ruộng lúa. Để trồng được cao su, người trồng phải đắp mô, lên luống, đào mương cho nước chảy để đất thoát nước, bón vôi hạ phèn, giảm độ chua… Ngoài ra các hộ trồng cao su trên đất lúa còn tăng cường chăm sóc, bón phân, nói chung là đầu tư mạnh cho cây cao su bằng nhiều biện pháp.
Trong một, hai năm đầu, do được chăm sóc tốt, hệ rễ cao su còn cạn, chưa ăn sâu vì thế cây cao su phát triển tốt, thậm chí còn phát triển hơn mức bình thường do được người trồng chăm sóc kỹ lưỡng.
Nhưng về lâu dài thì sao?
Trước hết, theo khuyến cáo của ngành cao su thì đất trồng cao su phải đáp ứng được các điều kiện: tầng đất dày từ 1m trở lên, dưới tầng đất không có hoặc rất ít đá tảng, đá ong, hoặc kết von; đất có độ PH từ 4,5-5,5, chiều sâu mực nước ngầm không dưới 100 cm, có khả năng thấm và tiêu nước nhanh, nếu có ngập thì cũng nhanh chóng rút trong thời gian rất ngắn.
Cây cao su là cây trồng cạn, không chịu úng. Hiện cũng chưa có giống cao su chịu úng và cũng không có cơ quan nào nghiên cứu chọn tạo giống cao su chịu úng.
Đất ruộng lúa có tầng đất cạn, nước nhiều, chua phèn không đảm bảo yêu cầu trồng cây cao su.
Cho đến nay, chưa có ruộng cao su nào trồng được lâu, mới chỉ 1-2 năm. Rễ cây cao su còn ngắn và nhỏ, có thể giúp cây bám trụ đứng vững trên đất ruộng, ảnh hưởng của mạch nước ngầm đối với hệ rễ cao su còn thấp. Nhưng đến thời kỳ cây cho khai thác thì rễ cây đụng phải tầng nước ngầm cạn ở dưới nên không thể ăn sâu và phát triển ra xung quanh được từ đó cây sinh trưởng chậm lại. Mùa nắng, tầng nước ngầm ở sâu thì rễ có thể đâm sâu xuống nhưng vào mùa mưa, mực nước ngầm dâng lên làm phần rễ bị ngập có thể bị chết. Từ đó hệ rễ cao su yếu trong khi đất ruộng xốp, không chắc chắn nên gặp mưa gió cây sẽ bị bị đổ ngã.
Mặt khác trong mùa mưa, nước nhiều, cây cao su không sống và phát triển được trong vùng nước ngập lâu ngày, nếu áp dụng các biện pháp thuỷ lợi như đào vét mương chảy, sử dụng máy bơm thì khá tốn kém.
Còn về chất lượng và sản lượng mủ thì hiện nay chưa biết do cây cao su trồng trên đất ruộng chưa cho khai thác. Tuy nhiên, thiết nghĩ, do dư lượng nước nên chắc chắn hàm lượng mủ sẽ thấp.
Việc phát triển kinh tế gia đình, tự vươn lên làm giàu từ cây cao su của người dân là hợp lý, tuy nhiên để đảm bảo có thu nhập từ cây cao su thì không thể trồng trên đất ruộng lúa như hiện nay được. Bà con nông dân cần thận trọng, không khéo sẽ hao phí tiền của đầu tư nhưng hiệu quả đầu tư không có, khó khăn sẽ càng khó khăn hơn.

Thứ Tư, 14 tháng 9, 2011

Hội thi nhà nông đua tài xã Mé Pu năm 2011

Tôi lại được dự một cuộc thi mà ở đó toàn là những nông dân chia thành nhiều đội đại diện cho các thôn mình ở tham gia tranh tài về hiểu biết về nông thôn, nông dân, pháp luật và kỹ thuật nông nghiệp.
Là giám khảo cuộc thi, cầm cân nẩy mực, tôi mới thấy sự cố gắng, sự ham học hỏi để có hiểu biết về các lĩnh vực nhất là kỹ thuật nông nghiệp để ứng dụng vào thực tế để làm ăn có hiệu quả.


Dù rằng Cuộc thi tổ chức còn một số hạn chế, nhưng đây chính là một sân chơi để cho nông dân học hỏi, vui chơi, giao lưu.

Thứ Ba, 30 tháng 8, 2011

Bệnh phấn trắng hại cao su

           Đây là bệnh hại nguy hiểm và phổ biến trên cây cao su ở Bình Thuận và khắp các vùng trồng cao su.

Bệnh phấn trắng do nấm (Oidium hevea) gây ra. 
Bệnh gây hại trên cay cao su ở mọi lứa tuổi, chù yếu vào giai đoạn cây ra lá mới. Trên cây còn nhỏ, bệnh làm rụng lá, nếu nặng cây không lớn được và có thể bị chết. Trên cây lớn, bệnh gây rụng lá nhiều lần làm chậm thời gian khai thác dẫn đến giảm sản lượng mủ ở vườn cao su kinh doanh. Bệnh tấn công chủ yếu các lá non, lá có thể bị rụng hàng loạt nếu gặp thời tiết lạnh và có sương mù, sau giai đoạn này lá không bị rụng nữa mà để lại các vết bệnh có nhiều dạng loang lổ khác nhau thậm chí toàn bộ phiến lá bị biến dạng và chuyển qua màu vàng nhạt, trên các vết bệnh sinh ra lớp bột màu trắng như phấn, cây sinh trưởng kém, hoa bị bệnh thì nhỏ hoặc thối rụng.      
          Để phòng trừ bệnh phấn trắng đạt hiệu quả cao, không những cần sử dụng đúng thuốc, phun xịt đúng yêu cầu kỹ thuật mà cần lưu ý áp dụng đồng thời nhiều biện pháp sau đây : 
          - Tăng lượng phân đạm và kali vào giai đoạn cao su bắt đầu ra lá mới để giúp tầng lá sớm ổn định. 
        - Về giống cao su: Các giống VM515, PB235, PB255, RRIV 4, GT1 bị nhiễm nặng không nên trồng. 
          Ở miền Đông Nam bộ, cơ cấu bộ giống giai đoạn 2011–2015, được chia thành 3 Bảng, với mức độ ưu tiên giảm dần. Các giống ở Bảng I được trồng đến 60% diện tích, mỗi giống trồng không quá 20% diện tích gồm các giống: RRIV 1, RRIV 5, RRIV 124, PB 255.
          Bảng II, trồng đến 30% diện tích, mỗi giống trồng không quá 10% diện tích. gồm các giống: RRIV 106, RRIV 107, RRIV 114, RRIV 109, IRCA 130, PB 260
          - Vệ sinh vườn cây ngay trong và sau khi rụng lá. 
          - Thăm vườn cao su thường xuyên để phát hiện bệnh sớm, từ đó có biện pháp phòng trị thích hợp và kịp thời. Ở các vườn cây có nguy cơ nhiễm bệnh cao hoặc những vườn cây năm trước đã nhiễm bệnh, nhất thiết phải căn cứ vào sự ra lá mới để quyết định xử lý bằng cách phun thuốc trực tiếp để trừ ngay trong mùa bệnh từ 3 - 6 lần, với chu kỳ 7 - 10 ngày/lần. 
          Loại thuốc rất có hiệu quả là Kumulus, Sulox 80WP (bột lưu huỳnh thấm nước) nồng độ 0,3%, Hexaconazole (Anvil 5SC, Callihex 50SC) nồng độ 0,15% hoặc hỗn hợp của Carbendazim và Hexaconazole (Arivit 250SC, Vixazol 275SC…) nồng độ 0,2%. 
          Phun thuốc lên tán lá khi có 10-15% số cây ra chồi mới hoặc 10% lá non nhú chân chim trên vườn và ngừng phun khi 80% lá đã già. Thực hiện phun thuốc 3 lần, mỗi lần cách nhau 5 – 7 ngày vào buổi sáng ít gió. 
         Đối với vườn cây đang thu hoạch mủ, áp dụng biện pháp xử lý gián tiếp như tăng cường phân bón vào cuối mùa mưa, tăng lượng phân đạm và kali vào giai đoạn cao su bắt đầu ra lá mới để giúp tầng lá sớm ổn định, vệ sinh vườn cây ngay trong và sau khi rụng lá.
        Phun thuốc đúng thời điểm sẽ quyết định khả năng thành công của việc phòng trừ bệnh phấn trắng trên cao su. Thời điểm phun hiệu quả cao là giai đoạn búp lá (lá có màu tím nhạt), khi lá chưa hoàn chỉnh về mặt hình thái và nên phun 2 lần, cách nhau 2 tuần thì hiệu quả đạt được sẽ cao hơn. 
        Có thể kết hợp phun thuốc trừ bệnh Sulox, Kumulus với phân bón lá cao cấp Multi-K nhằm tăng cường khả năng sinh trưởng và chống chịu bệnh của cây cao su với liều lượng 2-3 kg phân Multi-K/1.000 lít nước và phun kết hợp với thuốc Sulox ở lần xử lý thứ 2. 
        Muốn đạt hiệu quả cao trong phòng trừ bệnh này cần sử dụng máy phun thuốc hoặc thiết bị phun thuốc sao cho phù hợp. Hiện nay nhiều nơi sử dụng máy phun cao áp TF45-C30 với dàn máy kéo công nông có gắn bồn chứa nước bằng nhựa (dung tích 1.200 - 1.500 lít) và cải tiến cần bơm cao thích hợp với độ cao cây của vườn cao su. 
        Một số nơi đã đưa vào sử dụng máy phun thuốc cao áp ARBUS 400, có 24 vòi phun; Là máy phun đa năng, điều khiển được tốc độ phun, áp dụng phun dung dịch hóa chất lỏng có tính năng phun sương mù cao (8 m), phun hai hàng một lúc và xa (8m x2=16 m). 
      Cần trang bị đầy đủ thiết bị bảo hộ lao động cho người trực tiếp phun thuốc. 

Thứ Tư, 24 tháng 8, 2011

Vì sao phải bón phân lót cho ruộng lúa?

           Trước hết cần phải thấy rằng hầu hết đất ruộng của chúng ta hiện nay chua và có nhiều phèn. Mặt khác sau thời gian canh tác bà con chủ yếu bón bằng các loại phân hóa học, không hoặc rất ít bón phân chuồng nên đất càng chua hơn, độ phì nhiêu giảm đi vì thiếu chất hữu cơ. Dinh dưỡng trong đất ngày càng giảm.
Trong điều kiện làm ruộng 3 vụ liên tục, đất không có thời gian ngủ nghỉ, vừa gặt xong đã cày vùi gốc rạ xuống thì khi bị phân hủy, rơm rạ sẽ tạo thành những chất độc trong đất. Nếu không bón lót, khử độc thì lúa sẽ bị ngộ độc, cây vàng vọt, yếu ớt.
Khi ngâm ủ, phôi hạt sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có trong hạt (hạt gạo) để phân hóa, hình thành các bộ phận ban đầu như mầm và rễ cây và chỉ xảy ra trong vòng mấy ngày. Thời kỳ này gọi là thời kỳ dinh dưỡng dị dưỡng của cây, nghĩa là cây chỉ sử dụng những chất hữu cơ sẵn có trong hạt để sống, và chưa tự mình tạo được chất hữu cơ để nuôi sống bản thân.
Sau khi ta sạ giống xuống đất, cây lúa bắt đầu thời kỳ dinh dưỡng tự dưỡng, tức sử dụng các chất khoáng trong môi trường đất, cùng với nước, khí Carbonic và ánh sáng mặt trời để tự tổng hợp nên các chất hữu cơ cần thiết cho đời sống của mình. Trong thời kỳ này bộ rễ cây còn rất non nớt và nhỏ bé, nên chỉ có thể hấp thu được những nguồn dinh dưỡng cận kề. Chỉ trong vòng 5-7 ngày sau tính từ khi hạt bắt đầu nhú mầm là hạt gạo đã hết chất dinh dưỡng, chỉ còn vỏ trấu.
Bón phân lót trước khi sạ tức là cung cấp ngay các nguyên tố dinh dưỡng cần thiết, với lượng phù hợp cho cây trong giai đoạn đầu này. Thường thì cây trồng vụ trước đã khai thác rất nhiều dinh dưỡng trong đất. Lúc sạ lúa môi trường đất đã trở nên nghèo, không có khả năng cung cấp cho cây đủ số lượng và chất lượng dinh dưỡng cần thiết. Nếu ta không bón lót chẳng khác nào ta đẻ con ra mà không cho bú, hoặc cho bú không đủ, gây tình trạng suy dinh dưỡng, mà sau này khó lòng khắc phục được thể trạng yếu đuối của cháu nhỏ. Vì vậy việc bón lót cho lúa trước khi sạ cũng có ý nghĩa tương tự.
Bón lót cho đất trước khi gieo sạ còn làm giảm độ chua phèn, giảm lượng chất độc hại trong đất giúp rễ lúa có điều kiện để phát triển.
Thông thường cây lúa cũng như những cây trồng khác cần rất nhiều loại nguyên tố dinh dưỡng khác nhau. Tuy nhiên lúc làm đất nên sử dụng các loại phân này để bón:
- Vôi bột: bón 50-100 kg/1.000m(1 sào)
- Phân chuồng, phân hữu cơ vi sinh
- Phân lân (như lân Long thành, lân nung chảy văn Điển), bón 40-50 kg/1.000m2.
Vôi có tác dụng khử phèn, khử chất độc đồng thời cũng là thức ăn của cây. Thiếu vôi, đỉnh ngọn sẽ bị chết. Vôi không nên bón liên tục, mỗi năm chỉ bón 1 lần.
Phân chuồng làm tăng độ phì nhiêu cho đất. Trong phân chuồng có đầy đủ các loại dinh dưỡng dù không nhiều, làm xốp đất, tạo môi trường thông thoáng cho rễ cây hoạt động. Có điều kiện bón càng nhiều càng tốt. Thực tế người dân ngại bón phân chuồng do cồng kềnh, khối lượng lớn, vận chuyển khó khăn trong khi giao thông nội đồng chưa đáp ứng.
Phân lân giúp giảm chua phèn, khử chất độc và là thức ăn của cây. Phân lân giúp rễ phát triển và giúp hút các chất dinh dưỡng khác. Thiếu lân rễ không phát triển làm cho cây suy yếu, vàng vọt. Phân lân không tan trong nước và chỉ cần bón một lần là cây sử dụng cả vụ vì thế toàn bộ lượng phân lân được dùng để bón lót ngay khi làm đất. Nếu bón chậm thì sẽ ảnh hưởng lớn rễ lúa.
Khi bón lót không được trộn vôi và lân lại với nhau mà phải bón riêng lẻ vì nếu trộn lại chúng sẽ tác dụng với nhau tạo thành chất cây không hút được.
Bón lót ngay khi làm đất bằng phân chuồng, phân hữu cơ và phân lân là biện pháp hết sức quan trọng giúp cây lúa sinh trưởng tốt, khỏe mạnh làm tiền đề tăng năng suất lúa sau này. Nhưng cũng nhớ rằng đây mới chỉ là biện pháp cơ bản ban đầu, vì còn cần phải bón thúc đủ các loại dinh dưỡng cho cây lúa trong các thời kỳ cây cần và áp dụng các biện pháp chăm sóc phòng trừ sâu bệnh một cách kịp thời mới đảm bảo cho một vụ bội thu.

Thứ Bảy, 20 tháng 8, 2011

Một số giống lúa mới ngắn ngày cao sản

     Chọn tạo giống lúa là một trong những yêu cầu quan trọng trong việc góp phần gia tăng năng suất. Các nhà khoa học Viện lúa Đồng bằng Sông Cửu Long đã bỏ nhiều công sức nhằm tạo cho bộ giống lúa của Việt Nam ngày càng phong phú, giúp cho bà con nông dân có nhiều giống mới bổ sung vào cơ cấu giống cây trồng hàng năm.
     Dưới đây là một trong những giống đó:



Giống lúa OM 7347




Giống lúa OM 6600




Giống lúa OM 5981




Giống lúa OM 5629
     Đây là những giống lúa cấp nguyên chủng mà hiện nay tôi đang bố trí thực nghiệm tại địa phương mình.

Thứ Bảy, 13 tháng 8, 2011

Bệnh ngộ độc hữu cơ trên cây lúa

1.Triệu chứng:
Rễ lúa bình thường có màu trắng hay trắng ngà, nhưng khi bị ngộ độc hữu cơ thì rễ có màu nâu đỏ đến đen, mùi thối (rễ chết).



Rễ lúa bị ngộ độc hữu cơ
Khi bị ngộ độc hữu cơ bộ lá ngả sang màu vàng, từ chóp lá xuống và từ mép lá vào do rễ không hút được dưỡng chất. Lúa phát triển và đẻ nhánh kém, cây thấp, không bắt phân.
Khi bị nặng cây lúa có thể chết lụi dần, những cây còn lại có thể không cho bông hoặc bông nhỏ, hạt lép nhiều.
2.Nguyên nhân:
Đây là bệnh sinh lý.
Thường xảy ra ở vùng canh tác lúa  3 vụ/năm.
Do khoảng thời gian chuẩn bị đất đến khi gieo sạ ngắn, làm đất sơ sài, chỉ vừa mới cày vùi rơm rạ thì đã gieo sạ ngay.
Sau khi gieo sạ các gốc rơm rạ tiếp tục bị phân huỷ trong điểu kiện yếm khí tạo thành khí độc như H2S, các axít hữu cơ như axit acetic, axit butyric,... gây độc cho cây lúa.
Những nơi ruộng trũng, ruộng gần các ao cá hay chuồng trại chăn nuôi bị tháo nước xuống ruộng thường xuyên thì bệnh sẽ nghiêm trọng hơn.
3. Phòng:
Hạn chế làm vụ 3. Nên xen 2 vụ lúa 1 vụ màu.
Thời gian từ làm đất đến khi gieo sạ ít nhất là 20- 25 ngày để xác bã hữu cơ kịp phân hủy. Có thể dùng thuốc trừ cỏ phun lên gốc rạ giúp cho gốc rạ mau phân hủy.
Cày vùi rơm rạ xong cho nước vào ruộng khoảng 2 tuần sau đó tháo hết nước và thay nước mới vào để làm đất gieo sạ.
Bón lót phân lân đầu vụ với lượng 300- 400kg/ha kích thích bộ rễ phát triển mạnh.
4. Khắc phục:
Khi lúa bị ngộ độc hữu cơ nếu có thể nên tháo hết nước trong ruộng ra để cho ruộng khô nứt chân chim cho khí độc thoát ra khỏi đất. Sau đó bơm nước mới vào để pha loãng các chất độc còn lại.
Sử dụng 50- 100kg/ha phân DAP rải cho ruộng
Sử dụng TM- Siêu Lân Đỏ, Hydrophos, Super K-humat,... có hàm lượng lân và kali cao phun nhằm phục hồi bộ rễ, giải độc  và cung cấp dinh dưỡng cho lúa.



Phân bón lá Hydrophos chứa hàm lượng lân dễ tiêu rất cao
Ngưng bón phân đạm cho lúa.
Khoảng vài ngày sau khi thấy lúa phục hồi ra lá xanh, bộ rễ phát triển, ra nhiều rễ trắng thì đã cứu lúa thành công, và tiến hành chăm sóc bình thường.

Thứ Năm, 11 tháng 8, 2011

Tên giống cao su


Hiện nay có rất nhiều giống cao su, tuy nhiên tên gọi thì dễ nhầm lẫn.  Chính điều đó gây lúng túng cho những nông dân mua giống cao su để trồng bởi vì người bán khi thì nói giống lai hoa, khi thì RRIV mà không nói rõ những con số đứng sau đó. Nguyên nhân do trước đây các dòng vô tính do Viện Nghiên cứu cao su Việt Nam lai tạo khởi đầu được đặt tên là L/H (viết tắt của lai hoa), theo sau là số ghi  năm lai tạo và thứ tự thu hoạch của từng vụ lai nhưng sau đó lại đặt thêm tên các giống gồm RRIV (RRIV 1 đến RRIV 5). Thực ra cụm chữ RRIV là từ viết tắt của tên Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam từ tên tiếng Anh là Ruber Research Institute of Vietnam.
Nhằm đảm bảo tên gọi thống nhất, tránh tên dài và dễ nhầm lẫn do trùng tên (do lai tạo các năm khác nhau nhưng có cùng số thứ tự) Viện Nghiên cứu Cao su Việt Nam đã đặt tên chính thức cho các dòng vô tính đã qua chọn lọc, tạo thương hiệu trong việc công nhận giống trong nước cũng như trao đổi thông tin quốc tế dễ dàng và thuận lợi hơn.
Cách đặt tên như sau: các giống lai hoa (LH) trong cùng dãy số ứng với giai đoạn 10 năm lai tạo. Các dòng vô tính lai tạo trong cùng thập niên được chọn lọc về sau được tiếp tục đặt tên vào cùng dãy số.
Dãy RRIV 100 (lai tạo từ vụ lai đầu tiên đến vụ năm 1990, bao gồm các giống LH 82/8 đến LH 90/1094), bắt đầu từ RRIV 101 (ngoài 5 dòng đã đặt tên từ RRIV 1, RRIV 2, RRIV 3, RRIV 4 và RRIV 5) là tên chính thức.
Dãy RRIV 200 (từ vụ lai năm 1991 đến 2000, bao gồm các giống LH 91/1029 đến LH 95/395), bắt đầu từ RRIV 201 là tên chính thức.
Sau đây là tên chính thức của các dòng vô tính lai tạo tại Viện Nghiên cứu cao su:










































Tên chính thức
Tên gốc
Mẹ
Bố
RRIV 101
LH 82/8
IR 45
PB 235
RRIV 102
LH 82/75
RRIC 110
PB 235
RRIV 103
LH 82/92
RRIC 110
RRIC 123
RRIV 104
LH 83/29
IR 45
RRIC 123
RRIV 105
LH 83/32
IR 45
RRIC 121
RRIV 106
LH 83/85
RRIC 110
PB 252
RRIV 107
LH 83/87
RRIC 110
RRIC 104
RRIV 108
LH 83/283
PB 235
RRIC 117
RRIV 109
LH 83/290
PB 235
RRIC 123
RRIV 110
LH 83/311
RRIC 123
PB 324
RRIV 111
LH 83/732
PR 255
PB 235
RRIV 112
LH 87/202
PR 255
GU 1479
RRIV 113
LH 88/61
RRIC 121
PB 235
RRIV 114
LH 88/72
RRIC 121
PB 235
RRIV 115
LH 88/236
GU 1479
RRIC 121
RRIV 116
LH 89/1640
RRIC 121
LH 83/75
RRIV 117
LH 90/90
RRIV 1
GU 164
RRIV 118
LH 90/117
RRIM 600
RRIC 110
RRIV 119
LH 90/125
PB 235
RRIC 110
RRIV 120
LH 90/276
VM 515
RRIC 121
RRIV 121
LH 90/317
VM 515
PB 235
RRIV 122
LH 90/348
VM 515
PB 235
RRIV 123
LH 90/837
PR 255
RRIC 121
RRIV 124
LH 90/952
RRIC 121
RRIC 123
RRIV 125
LH 90/1094
RRIC 121
RRIC 123
RRIV 201
LH 91/1029
RRIC 102
PB 255
RRIV 202
LH 91/486
GT 1
GU 176
RRIV 203
LH 94/13
IAN 713
GU 176
RRIV 204
LH 94/62
PB 255
LH 82/90
RRIV 205
LH 94/267
RRIC 121
RRIM 725
RRIV 206
LH 94/286
PB 235
RRIV 5
RRIV 207
LH 94/342
PB 235
VM 515
RRIV 208
LH 94/359
RRIM 725
RRIC 121
RRIV 209
LH 94/481
LH 82/173
RRIC 121
RRIV 210
LH 94/544
IAN 710
RRIV 5
RRIV 211
LH 94/626
FX 2829
RRIC 121
RRIV 212
LH 95/90
RRIV 5
RRIC 130
RRIV 213
LH 95/208
RRIC 121
FX 4425
RRIV 214
LH 95/255
LH 82/173
TU 525
RRIV 215
LH 95/395
IRCA 117
LH 82/173